Hành trình đến với người Việt ở xứ Kampuchia

Hành trình đến với người Việt ở xứ Kampuchia

Đăng bởi admin lúc 1:47 Sáng 21/03/12

VRNs (21.03.2012) - Phnom Penh - Những người Công Giáo hôm nay bắt đầu bước vào Mùa Chay, Mùa của yêu thương và nhìn ngắm lại những yếu đuối, tội lỗi của chính mình,  mùa chiêm niệm Chúa chết trên Thập Giá để tập những bước đi theo Ngài, trong niềm tin hy vọng mong ước nhận được sự Phục Sinh như Ngài.

Ngày 05/03/2012 LM Antôn Phạm Gia Thuấn (Cha Chánh xứ Trung Chánh) dẫn dắt nhóm Bác Ái Teresa Calcutta đi đến với những người anh chị em bên cạnh Kampuchia để chia sẻ những khó khăn, thiếu thốn trong đời sống tinh thần và vật chất.  Cũng là dịp để những nguời trong nhóm thăm viếngmột vài đền đài, sinh hoạt văn hoá, đời sống của đất nước Kampuchia đang dần hồi sinh sau những tháng năm u ám đầy những đau thương chết chóc do chế độ diệt chủng Pôn-Pốt, Liêng Sary gây nên.

Đoàn gồm 20 người từ Sài Gòn khởi hành lúc 7 giờ sáng, sau khoảng hơn 1 giờ đoàn đã đến cửa khẩu Mộc Bài. Trời vừa hừng nắng,  hôm nay ít người qua cửa khẩu nên nhóm chúng tôi qua trạm thủ tục của hai bên Việt Nam, Kampuchia nhanh chóng. Cũng cần nói thêm rằng cả nhóm chúng tôi dù đã bước vào tuổi 50, 60 đều gọi Cha Thuấn bằng danh từ thân thương là “Bố” vì gần như tất cả đều là học trò ngày xưa của Cha cả về văn hoá lẫn giáo lý.  Dù đã bước qua tuổi 80, sức khoẻ đã yếu, nhưng bố vẫn thường xuyên dẫn dắt cộng đồng dân Chúa trong giáo xứ sống đức tin bằng cách chia sẻ đến những người nghèo khó, bất hạnh như trại cùi hủi, bệnh xã hội, mồ côi, tật nguyền ở các nơi trong nước.

Ra đón đoàn chúng tôi từ bên cửa khẩu có Thầy Giuse Tùng, Dòng Truyền Giáo Thánh Mẫu Chúa Cứu Thế (TGTMCCT) và một anh hướng dẫn viên kiêm thông dịch tên Chin Hai người Kampuchia với chiếc xe 24 chỗ ngồi chở chúng tôi đi dần vào đất nước Kampuchia với hai bên đồng ruộng xanh ngát, lưa thưa vài căn nhà sàn nằm cách khoảng ven đường.

Chúng tôi ăn cơm trưa tại một quán cơm ven đường rồi đi tiếp đến một bến phà, thấp thoáng bên kia sông Mêkông hiện ra một tháp chuông nhà thờ và những dãy nhà sàn lụp xụp. Đó là nhà thờ Hố Trư, điểm đầu tiên chúng tôi đến thăm. Nơi đây vào năm 1924-1925 Cha Trương Bửu Diệp đã làm Cha Phó họ đạo. Một chiếc ghe máy của họ đạo chở chúng tôi vượt qua sông Mêkông, nhà thờ Hố Trư nằm sát con sông, phía bên hông phải có một gian đặt tượng cha Diệp để giáo dân đến xin khấn cũng là nơi các cháu thiếu nhi tập hát, thêm một dãy nhà bốn gian nằm dọc bên hông nhà thờ dành để dạy các cháu học văn hoá và giáo lý.

Phụ trách giáo điểm này là sơ Lucia Phi cũng thuộc Dòng (TGTMCCT). Sơ cho biết tình hình chung của giáo điểm như sau:

·       Số giáo dân người Việt có khoảng 150 gia đình đại đa số đi làm thuê, buôn bán nhỏ.

·       Có ba phòng để dạy các cháu học văn hoá miễn phí cho các cháu học cấp 1,  Chủ nhật dành để dạy giáo lý.

·       Hai tuần mới có một Thánh lễ tại Giáo điểm.

·       Điểm hạn chế sinh hoạt tại đây là điện. Cả khu vực do một máy phát điện do tư nhân cung cấp chỉ phát điện từ lúc 6 giờ chiều đến 9 giờ. Nhà thờ cũng phải sử dụng nguồn điện đó.

·       Mái tôn nhà thờ do lâu năm nên nhiều chỗ dột, sân trước nhà thờ bị ngập nước nhiều ngày vào mùa lũ do nằm sát bờ sông.

Bảy giờ chiều cha Antôn dâng Thánh lễ, chật nhà thờ với giáo dân đông. Một điều hơi khác là tại đây giáo dân trải chiếu để ngồi suốt trong thánh lễ, không đứng, quỳ.

Các cháu thiếu nhi Việt Nam đang múa chào mừng khách viếng thăm

Tôi rất thích thú khi nghe ca đoàn thiếu nhi hát thánh ca bằng tiếng Kmer. Tiếng nhạc du dương, thánh thót, dù không hiểu lời. Nhưng khi nghe và ngước nhìn Cây Thập Tự Chúa trên bàn thờ tâm hồm tôi tràn ngập một nỗi cảm xúc khó diễn tả.  

Trong phần bài giảng Cha Antôn nhấn mạnh đến tinh thần phục vụ trong Mùa Chay Thánh, Ngài mong ước mọi người theo gương Chúa Giêsu khi xưa “Con người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10:45).

Hãy đến để phục vụ những người anh em nghèo khó hơn dù rằng mỗi người vẫn còn những lo toan vất vả trong cuộc sống. Đặc biệt với những nguời anh em đang sống nơi đây vì họ thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần. Ngài mời gọi cộng đoàn chọn lựa phương cách ăn chay bằng việc ăn năn sám hối những tội lỗi đã phạm và hy sinh hãm mình để đến với những người nghèo khổ cũng là hình ảnh của Đức Giêsu Kitô.

Sau Thánh lễ, chúng tôi được tiếp xúc, sinh hoạt với nhóm ca đoàn thiếu nhi. Các cháu mặc đồ dân tộc Kmer múa và hát những bài thánh ca bằng tiếng Việt và tiếng Kmer. Thời gian của chung tôi bị hạn chế vì sợ đến giờ cúp điện.

Một đêm ngủ trong nhà thờ thật an lành, gió từ mặt sông Mêkông thổi mát lạnh. 6 giờ sáng,  sau khi Cha Anton dâng thánh lễ chúng tôi được các cháu thiếu nhi mời ăn sáng bằng món cháo cá lóc từ Biển Hồ,  những con cá lóc thật to.

Chia tay họ đạo Hố Trư chúng tôi đến thăm và tặng quà họ đạo Vạn Lịch do Thầy Vincent Đại phụ trách. Ngôi nhà thờ mới khang trang xây trên một gò đất cao do Hội Bác Ái Phanxicô bên USA tài trợ. Chúng tôi cũng được gặp gỡ các cháu thiếu nhi để tặng quà và chia sẻ chút quà cho những người nghèo khó. Nhìn ngôi nhà thờ thật đẹp,  nhưng xung quanh những căn  nhà sàn nhếch nhác làm bằng những vật liệu cây, tre, lá chứng tỏ người dân ở đây vẫn rất nghèo đói. Cách họ đạo Vạn Lịch 5km chúng tôi ghé thăm họ đạo Hố Gai. Thầy Giuse Tùng giới thiệu với chúng tôi sinh hoạt của họ đạo. Tôi được dịp gặp một bà cụ già đã gần 70 tuổi đến nhận quà.  Cụ kể gia đình cụ ở Kampuchia đã ba đời, lúc quân  Pônpốt vào gia đình cụ bỏ chạy về Phan Thiết rồi lưu lạc trên đất Sài Gòn không nhà cửa. Sau khi quân đội Việt Nam giúp đỡ quân Kampuchia chiếm lại. Gia đình cụ  quay lại nơi đây, nhưng nhà cửa, ruộng vườn lại bị người bản xứ chiếm dụng; làm lụng mãi vài năm mới dựng đựợc căn chòi để ở. Cụ có sáu người con, tất cả đều đã lớn và có gia đình, hiện cụ ở với người con trai út. Các con cụ đều đi làm thuê làm mướn, lâu lâu mới có đứa ghé về cho cụ 50 hoặc 100 ngàn VN để tiêu. Tôi hỏi thêm: Sao cụ không định cư luôn ở Việt Nam? Cụ nói: “Vì tôi sinh ra ở đây và sống đã quen, về Việt Nam hiện giờ cũng không còn ai thân thích.” Cụ tỏ vẻ vui mừng vì sắp được nhập quốc tịch.

Cộng đoàn tham dự thánh lễ ngồi tại chỗ từ đầu đến cuối, không đứng hay quỳ

 

Thầy Vincent Đại chia sẻ: Trừ một số người Việt Nam đang sống ở Thành phố lớn như Nông-Pênh, Xiêm-Rệp,… Còn lại đại đa số người Việt tại vùng quê đều có đời sống khó khăn như cụ, cái băn khoăn nhất của các Thầy ở đây là đa số chưa được nhập quốc tịch Kampuchia nên việc học hành của các cháu lên đến cấp 2 bị khựng lại vì không có giấy khai sinh. Khi các cháu trưởng thành con trai đi làm thuê như thợ hồ hoặc cơ sở tư nhân,  con gái một số không biết làm nghề gì ngoài đi bán ở quán café nên rất dễ rơi vào tình trạng xa ngã, mặc dù có cháu lúc còn đi học do các Thầy dạy ở cấp 1 học rất giỏi. Chính quyền Kampuchia hiện nay cũng rất hạn chế vấn đề cho người Việt nhập quốc tịch vì họ cũng có cái lo của họ. Muốn có quốc tịch thường phải lo lót cho chính quyền, nhưng nhà nghèo cơm không đủ ăn lấy đâu lo.

Sau bữa cơm gia đình, chúng tôi tạm chia tay với những người anh em, vượt khoảng đường 250km đến Thành phố Xiêm-Rệp. Để xoá đi những nhọc nhằn trên đoạn đường dài, những câu chuyện ngày xưa khi còn đi học, những kỷ niệm thời còn sinh hoạt trong Thiếu Nhi Thánh Thể, trong ca đoàn của từng người nhóm được khơi dậy. (Bố) cũng tham gia kể nhiều câu chuyện khiến cả nhóm ai cũng cười bò lăn. Anh bạn hướng dẫn viên Chin Hai cũng tranh thủ những khoảng im lặng để giới thiệu về sinh hoạt chính trị, phong tục tập quán của người Kampuchia.

Xe đi qua một khu xóm với những căn nhà sàn dọc ven đường. Anh Chin Hai chỉ vào một căn nhà ở ô cửa sổ có treo một rèm cửa màu hồng và nói: “người Kampuchia có phong tục, trong nhà có cô gái chưa có chồng thì họ treo rèm màu hồng trước cửa phòng để các thanh niên biết, nhưng nhớ để ý kỹ một chút rèm mới hay đã cũ,  rèm cũ là cô gái chưa chồng nhưng đã lớn tuổi.” Kampuchia theo chế độ đa đảng,  hiện nay có ba đảng lớn, dọc đường họ treo hình những lãnh tụ Đảng hoặc biểu tượng của đảng. Người dân Kampuchia rất thích mùa bầu cử vì các đảng phái bỏ tiền tranh nhau tổ chức văn nghệ, tụ họp dân chúng để thuyết trình, biếu quà vận động người dân bỏ phiếu cho họ. Anh Chin Hai chia sẻ: mặc dù còn là quốc gia nghèo trong khu vực nhưng họ tự hào so với Việt nam vì họ có tự do hơn, tuy nhiên tình hình tham nhũng còn hơi nhiều. Ví dụ như khi xảy ra tai nạn giao thông nặng mà phải ra toà thì thường là người có tiền thắng nên nếu có va quẹt nhẹ họ thường thương lượng nhanh chóng để không phiền tới công an. Chính quyền Kampuchia hiện nay cũng khôn khéo, họ nhận viện trợ từ các quốc gia khác để làm những con đường, họ cho phép các quốc gia nào làm con đường được quyền đặt tên một danh nhân hay lãnh đạo của quốc gia đó, họ chỉ cần có đường xá thuận lợi khi khả năng họ không có để phục vụ quốc kế, dân sinh. Tuy nhiên, sau một thời gian con đường bị hư hỏng, nếu vài lần họ yêu cầu quốc gia làm con đường đó không đến sửa chữa thì họ lại nhờ một quốc gia khác làm lại con đường hư và cho phép đặt tên mới. Nghe anh Chin Hai kể cũng thú vị,  nhưng xe cũng bắt đầu vào thành phố Xiêm-Rệp khi trời vừa chập tối với những toà nhà cao tầng sáng rực. Khách du lịch từ  các nước Tây Âu, Nhật Bản đi nhộn nhịp hai bên đường. Xe chúng tôi ghé vào một nhà nghỉ trong một con hẻm rộng, chung tôi tranh thủ thời gian mang hành lý vào nhận phòng, tắm rửa, đi ăn cơm và dạo phố, thăm chợ đêm.

Tại hai thành phố Nôm-Pênh và Xiêm-Rệp, các cửa hàng kinh doanh trong thành phố thường mở cửa từ 7 giờ sáng và đóng cửa vào 5 giờ chiều, vì vậy du khách vào khu chợ đêm để ăn chơi, mua sắm rất đông, chợ được mở cửa cho đến sáng. Dọc con phố chính của chợ vài cửa hàng đổi tiền USA, Việt Nam, Yen Nhật, Thái lan. Họ để các loại tiền trong một tủ kính. Tôi được anh Chin Hai cho biết tỉ giá đổi tiền Việt Nam qua tiền Ria là 5.500 đồng VN đổi được 1000 Ria nhưng khi đổi họ đòi 6000 ngàn VN mới đổi được 1000 Ria. Tôi ngỏ ý muốn đổi tiền Việt ra tiền USA.  Họ đòi tỉ giá tới 3 triệu mới đổi thành 100 đô, quá cao so với tỉ giá ở Việt Nam. Vài quán cà phê,  tiệm mát-xa với những cô gái mặc đồ hở hang ngồi phía trước chào khách. Đi vòng vào trong chợ là những quầy hàng bán quần áo, đồ lưu niệm, trang sức, những sản phẩm truyền thống; có cả những bộ tượng cổ bằng đồng đã bị thủng mòn vài chỗ. Họ nói thách ghê lắm, cây đàn nhị với mặt nguyệt bằng da trăn tôi hỏi mua lúc đầu họ nói 500 ngàn tiền Việt,  nhưng sau một lúc tỏ ý không mua họ xuống giá cuối cùng đồng ý với giá 100 ngàn. Dịch vụ thu hút nhiều khách tham dự là ngồi trên hồ kính thả hai chân cho cá mát-xa với giá 1 đô la /1 giờ, những con cá nhỏ như cá lia thia ở Việt nam, khi thả hai bàn chân ngâm xuống hồ nước đàn cá xúm vào dùng miệng rúc rỉa những kẽ chân, vẩy da gây nhột nhột, thích thú.

Xiêm-Rệp là thành phố du lịch của Kampuchia  nằm gần các đền đài cổ Ankor Wat, Ankor Thom cũng là một kinh đô xưa của Kampuchia thời hưng thịnh. Được Unesco công nhận là di sản thế giới. Khách du lịch muốn thăm viếng,  tìm hiểu hết các ngôi đền phải mất ít nhất một tuần lễ. Chúng tôi chỉ có một ngày để đi nên anh Chin Hai dẫn chúng tôi đến hai ngôi đền chính là Angkor Wat và Ankor Thom và thêm một ngôi đền duy nhất có đặc điểm là những cây cổ thụ mọc vất vưởng ngay trên thành tường hoặc mái đền.  Trước khi vào thăm các ngôi đền, du khách phải đến quầy mua vé với giá 2 đô la. Mỗi du khách được chụp một tấm hình và hình được in trên tấm vé. Vé sẽ được sử dụng để thăm viếng tất cả các ngôi đền, tại phòng bán vé hôm nay rất đông khách du lịch đi theo từng đoàn, mỗi đoàn đều có hướng dẫn viên du lịch. Tôi để ý thấy một đoàn học sinh khoảng 40 em người Nhật mặc đồng phục, các em rất trật tự hình như em nào trên tay cũng có quyển sổ nhỏ ghi chép. Người Kampuchia rất tôn trọng,  bảo vệ khu di tích lịch sử của họ, bên trong các ngôi đền rộng lớn vẫn sạch sẽ, không có quán ăn gần khu vực; vài quầy bán nước, vật dụng kỷ niệm cũng nằm ở một khu vực riêng.

Anh Chin Hai giới thiệu và hướng dẫn đoàn chúng tôi đến từng hạng mục trong đền và rất nhiệt tình giải thích những thắc mắc. Tôi mê mải quay những đoạn phim nên không còn nghe được nữa. Quần thể các đền đài Ankor được xây dựng giữa khu rừng rộng lớn thời vua Suriya-warman II năm (1113-1150). Người Kmer dùng những khối đá ong làm nền xếp bên trong sau đó mới dùng những khối đá xanh ốp bên ngoài, đặc biệt họ chỉ xếp chứ không dùng vật liệu xây để kết dính. Sau đó họ tạc những khối đá xanh thành những bức phù điêu, những khuôn mặt các vị thần. Tôi bị hút hồn với bức tường tranh bằng đá dài khoảng 20m cao 4m với nét hoa văn tinh tế, những điệu múa của các vũ công Apsara, những khuôn mặt của các vị thần. Chúng tôi cũng thăm viếng một cây cầu đã dựng cách nay gần 1000 năm hoàn toàn bằng đá, cây cầu bắc ngang con sông sâu chiều rộng sông khoảng 30m. Điều độc đáo là cây cầu cũng chỉ được xếp bằng những phiến đá và không sử dụng vật liệu kết dính. Trên cầu có thể lưu thông với hai xe tải chạy ngược chiều, lề cầu hai bên dành cho người đi bộ, thành cầu vòng cung,  đến đầu thành cầu có hình đầu một con rắn hổ mang to. Cách nay 4 năm,  để bảo toàn di sản họ không cho xe lưu thông qua cầu nữa.

Chụp hình lưu niệm

Sáu giờ sáng Cha Antoôn dâng Thánh lễ trong phòng của ngài, sau đó chúng tôi chia tay Xiêm-Rệp lên xe trở về Nông-Pênh, trên đường chúng tôi ghé thăm một giáo điểm trên Biển Hồ Tonlesap. Chiếc ghe máy chở đoàn chúng tôi từ bến sông đi khoảng 5km thì ra đến Biển Hồ, . Chiếc ghe máy quay bánh lái trực chỉ đến giáo điểm Biển Hồ được dựng trên ba chiếc bè gỗ, chia thành ba gian. Gian chính giữa là nhà thờ, gian phải là lớp học, gian phía trái là nhà kho và nơi sinh hoạt. Ra tiếp đoàn chúng tôi là một giáo dân phụ trách quản lý. Sau khi cầu nguyện trong nhà thờ, thay mặt phái đoàn Cha Anton gởi tặng một ít tiền cho những người nghèo. Bác giáo dân giới thiệu vài nét sinh hoạt tại giáo điểm và dẫn chúng tôi qua bè bên cạch dùng làm lớp học. Gian nhà phần diện tích lớn được ngăn làm lớp học, phần còn lại làm bếp nấu ăn cho các cháu. Ba mẹ các cháu phần lớn sống lênh đênh trên chiếc ghe nhỏ, sinh sống bằng nghề chài lưới trên Biển Hồ. Cô giáo chưa đến lớp, nên sau khi phát bánh kẹo cho các cháu, một người trong đoàn trước kia là giáo viên đã về hưu tranh thủ dạy các cháu một bài hát thiếu nhi. Biển Hồ Tonlesap giống như một cái túi điều hòa nước sông Mêkông. Chiều dài hơn 100km, chiều rộng hơn 4km. Chúng tôi đi vào mùa nước cạn, nên nổi lên những khu rừng. Khi mùa nước lũ dâng cao, những khu rừng cây bị nước ngập trắng, người ta cắm những cây cao gắn cờ hiệu để báo hiệu cho ghe thuyền tránh.

Xe chúng tôi về đến thành phố Nông-Pênh lúc 7 giờ chiều. Thầy Vincent Đại chia tay với chúng tôi sau hai ngày hướng dẫn đoàn để về nơi thầy phụ trách. Chúng tôi lại được thầy GiuseTùng đón trước cửa một nhà nghỉ. Buổi cơm chiều tối, thầy Tùng đãi chúng tôi cũng tại quán ăn của một Việt kiều thầy quen biết trước. Sau khi ăn tối, xe chở chúng tôi đi dạo vài con đường chính của thành phố. Lượng xe lưu thông ở thành phố Nông-Pênh ít hơn ở thành phố Hồ Chí Minh,  nhưng số xe du lịch nhiều hơn xe gắn máy. Giao thông rất trật tự dù có lúc đông xe phải chạy rất chậm nhưng những chiếc xe vẫn nối đuôi theo hàng chứ không xen lấn, bóp kèn.

Buổi sáng, sau khi dự Thánh lễ, phái đoàn chung tôi lên xe đi thăm đài tưởng niệm các chiến sĩ Việt Nam đã hy sinh nằm ở gần trung tâm thành phố. Một tượng đài cao đứng giữa quảng trường rộng lớn. Bức tượng người lính Việt Nam cầm súng đứng bên cạch một nữ dân quân Kampuchia đang hướng nhìn về một phía. Chúng tôi thắp nén nhang và hồi tưởng lại hàng ngàn những người con thân yêu của mẹ Việt Nam đã ngã xuống trên đất nước Kampuchia để loại trừ một chủ nghĩa độc tài diệt chủng.

Đi thẳng con đường từ quảng trường khoảng 100m là cung điện Hoàng Gia Kampuchia.

Được khởi xây sau khi vua Norodom chuyển kinh đô từ Oudong về Nông-Pênh vào giữa năm 1800. Khác với những đền đài Ankor với màu đất đá xanh xám, cung điện ở đây xây dựng bằng các vật liệu kết dính và sơn phủ một màu trắng, một ngôi đền chính giữa được sơn phết nhiều màu nhưng những nét hoa văn và kiến trúc vẫn mang vẻ đặc trưng của dân tộc Kmer như ở các đền Ankor. Vào trong đền vàng trưng bày các vật dụng sinh hoạt của vua như bàn ghế, chén bát,  v. v… tất cả đều bằng kim loại quý như vàng, bạc, kim cương. Một tượng Đức Phật bằng vàng đặc được đặt chính giữa cao khoảng 3m. Nới đây không cho du khách quay phim, chụp hình. Du khách khi ra bằng một lối khác với cổng vào, trên đường ra họ treo một tấm bản đồ to in hình ba nước Đông Dương. Tôi chú ý đến bản đồ Việt Nam bị vẽ mất phần miền Tây Nam và một góc miền Trung. Anh Chin Hai giải thích cho tôi là dựa vào lịch sử thời Chúa Nguyễn, người Kampuchia vẫn coi phần đất đó là của họ bị Việt Nam chiếm.

Tại góc ngã tư đường gần cổng ra vào, một xe mô-tô của anh công an giao thông đậu trên lề để kiểm soát lưu thông. Một người trong nhóm chúng tôi ngỏ ý muốn ngồi lên xe mô-tô để chụp hình lưu niệm. Anh công an vui vẻ lùi ra xa để từng người trong nhóm ngồi lên xe chụp hình. Công an giao thông ở Kampuchia ít thấy xuất hiện, suốt đoạn đường dài qua tới thành phố Xiêm-Rệp và trở về, tôi chỉ thấy có ba lần.

Xe đưa chúng tôi đi khoảng 3km đến bảo tàng diệt chủng Tuol Sleng, nơi trưng bày chứng tích tội ác của Kmer đỏ sau thời gian cầm quyền từ 1975 đến 1979. Nơi đây trước kia là một trường trung học được chuyển thành nhà tù giam giữ khoảng trên 17.000 người gồm đủ các quốc tịch. Bên trong họ trưng bày những hình ảnh, tranh vẽ, hiện vật, chứng cứ… Những cảnh tra tấn và giết tù nhân bằng nhiều cách rất man rợ.

Sau bữa cơm trưa, chúng tôi ghé thăm một giáo điểm cuối là họ đạo Tuatan nằm cách thành phố Nông-Pênh vài cây số do thầy Phêrô Quang chăm sóc. Ngôi nhà nguyện được dựng theo kiểu nhà sàn, phía dưới được dùng để sinh hoạt, dạy giáo lý, bên hông có đài Đức Mẹ. Mặc dù cách thành phố không xa, nhưng những người anh em ở đây cũng không khác với những giáo điểm ở vùng quê, cũng những căn nhà sàn xiêu vẹo, những đứa trẻ đen đủi gầy ốm. Các họ đạo đều thiếu linh mục để cử hành các phép bí tích vì hai tuần mới có một Thánh lễ.

Chia tay những người anh em cuối cùng,  chúng tôi lên xe trở về Việt Nam. Đoạn đường còn xa nhưng thầy Tùng và anh Chin Hai đưa tiễn chúng tôi về tới biên giới. Dọc đường những chiếc xe tải chở đầy người ngồi cả trên mui xe. Đi ngang qua một khu công nghiệp vào đúng giờ tan ca,  từng hàng xe tải mui trần chở những người công nhân đứng  chật ních trong lòng thùng xe nối đuôi nhau chạy trên đường.

Cha Anton thay mặt đoàn cảm ơn bác tài xế và anh Chin Hai (cả hai là người Kampuchia). cảm ơn các Thầy và các Soeur của Dòng TSTMCCT đã nhiệt tình đón đưa, hướng dẫn phái đoàn gặp gỡ những người anh em bên cạnh sống trong cảnh nghèo đói, thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần. Cảm ơn những người anh em cho chúng tôi được tiếp xúc, chia sẻ để nhìn thấy gần với Chúa Giêsu hơn trong mùa chay Thánh.

Trời đã ngả chiều, xe đến biên giới, phái đoàn xuống xe xách hành lý đi bộ qua. Bên cửa khẩu Mộc Bài, một chiếc xe đã hẹn trước đón chúng tôi trở về.

Đoạn đường chỉ còn vài chục cây số về đến nhà, chúng tôi hợp nhau đọc kinh để tạ ơn Chúa đã ban cho phái đoàn ra đi và trở về được bằng an.

Lạy Cha hằng hữu, xin Cha ban cho những người lãnh đạo đất nước Kampuchia biết yêu thương, sáng suốt để vạch ra đường lối tốt đẹp cho dân tộc phát triển bền vững trong hoà bình, tự do, thịnh vượng sau những đau thương và mất mát quá lớn của dân tộc Kampuchia.

Xin Cha cũng ban cho những bậc lãnh đạo tôn giáo. Đặc biệt các bậc lãnh đạo giáo hội Công Giáo Kampuchia và các nam nữ tu sĩ có thêm ơn phù trợ của Chúa Thánh Thần soi sáng để yêu thương, bảo vệ những người nghèo khó còn đang chịu cảnh bất công, đói nghèo.

Xin Cha ban cho những người anh em Kampuchia chúng con đây được vững vàng trong đức tin, đức cậy, đức mến. Đùm bọc yêu thương nhau trong cuộc sống để vượt qua những gian nan, thử thách, thoát cảnh đói nghèo, được an cư lạc nghiệp để góp phần xây dựng đất nước Kampuchia ngày thêm tươi đẹp.

Xin Cha ban cho những anh, chị em chúng con đây biết ăn năn sám hối trong mùa chay Thánh này, ngày một thêm nhân đức. Nhiệt tình trong công việc tông đồ, bác ái. Biết khiêm cung phục vụ. Tìm hiểu sâu xa hơn những điều Chúa dạy để góp phần xây dựng xã hội công bằng, bác ái hơn.

Lạy Mẹ Maria, khi xưa lúc cưu mang Chúa trong lòng Mẹ. Mẹ đã phải chạy trốn những kẻ giết hại con Mẹ và nuôi dạy Chúa trên đất khách, quê người. Xin Mẹ thương ban, chở che những người anh em Kampuchia chúng con cũng đang sống trong cảnh lầm than được bình an, mạnh khỏe theo gương Thánh Gia.

Lạy thánh Giuse,  xin Ngài khẩn cầu Chúa cho chúng con. Amen.

Phêrô Trung Trực